29/04/2021 10:05
Xem với cỡ chữ

Tiếp tục hoàn thiện chính sách nâng cao hiệu quả nguồn vốn tín dụng nhà nước

Ban Kế hoạch - Nguồn vốn, NHPT (bài đăng Tạp chí HTPT, Tháng 4/2021).
Tín dụng đầu tư (TDĐT) của Nhà nước là một biện pháp hỗ trợ về nguồn vốn từ Nhà nước đối với các doanh nghiệp dưới hình thức cho vay thông qua một định chế tài chính chuyên biệt do Nhà nước thành lập, để đầu tư vào một số loại dự án phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng thuộc những ngành nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn mà Nhà nước ưu tiên đầu tư.
Ở nước ta, chính sách TDĐT của Nhà nước bắt đầu được triển khai thực hiện từ năm 2000 thông qua Quỹ Hỗ trợ phát triển (DAF) được thành lập theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP của Chính phủ. Năm 2006, cùng với xu thế hội nhập kinh tế và đổi mới hoạt động tài chính - ngân sách, hoạt động TDĐT của Nhà nước cũng có sự thay đổi với việc thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) trên cơ sở tổ chức lại DAF. Việc tổ chức thực hiện chính sách TDĐT của Nhà nước theo mô hình ngân hàng phát triển thay cho mô hình quỹ tài chính nhà nước đã đánh dấu sự chuyển biến tích cực của quá trình cải cách tài chính công, mà cụ thể là của quá trình đổi mới phương thức tài trợ của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư phát triển (ĐTPT) của nền kinh tế nhằm làm cho hoạt động này trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, đồng thời phù hợp với các cam kết của Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (ngày 11/12/2006).
Vai trò của TDĐT của Nhà nước trong thời gian qua 
Kể từ khi thành lập đến nay, NHPT đã cho các chủ đầu tư dự án vay hơn 220 nghìn tỷ đồng vốn TDĐT của Nhà nước. Số vốn TDĐT của Nhà nước mà NHPT cho vay trong giai đoạn này chiếm khoảng 0,5% tổng sản phẩm trong nước (GDP), hơn 1,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và gần 4% vốn ĐTPT từ khu vực Nhà nước cùng thời kỳ. 
Các dự án mà NHPT cho vay đầu tư là những dự án thuộc các ngành, lĩnh vực được Chính phủ khuyến khích phát triển như: sản xuất điện, thép, xi măng, phân bón...; phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống cấp nước, phát triển quỹ nhà ở tập trung, bảo vệ môi trường; các dự án phát triển nông thôn (phát triển giống thuỷ sản, giống cây trồng, vật nuôi; xây dựng cơ sở chế biến gia súc, gia cầm tập trung); các dự án thuộc lĩnh vực xã hội hoá giáo dục, y tế...; các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) khó khăn.
Phần lớn những dự án vay vốn TDĐT tại NHPT có tổng mức đầu tư lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài nên các ngân hàng thương mại ít khi cho vay vì không đủ tiềm lực tài chính hoặc không muốn gánh chịu rủi ro. Do đó, việc tiếp cận được với nguồn vốn TDĐT của NHPT đã giúp cho các chủ đầu tư đủ sức thực hiện nhiều dự án lớn, quan trọng: Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Lai Châu, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy đạm Ninh Bình, Vệ tinh Vinasat 1 và 2, Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nhà máy điện gió Bạc Liêu, Nhà máy sữa TH... 
Bên cạnh việc cho vay đối với các dự án của từng chủ đầu tư riêng lẻ, NHPT còn cho vay đầu tư đối với nhiều dự án thuộc các chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu về phát triển KT-XH trong từng thời kỳ. Ngoài ra, NHPT còn cho vay một lượng vốn tương đối lớn đối với các chương trình mang tính xã hội khác (cho ngân sách các địa phương vay để thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương, tôn nền vượt lũ; xây dựng hệ thống cấp nước, xử lý rác thải...).
Các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn TDĐT của NHPT hoàn thành đưa vào sử dụng đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế mà còn đóng góp tích cực vào việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong vùng hưởng lợi của dự án, thông qua việc tạo ra nhiều việc làm mới, nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo và các bệnh viện, cải thiện môi trường sống…
Với việc cung ứng một lượng vốn ĐTPT tương đối lớn cho nền kinh tế, hoạt động TDĐT của NHPT trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận, không chỉ góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà còn đem lại những hiệu quả rất lớn về mặt xã hội. 
Nhu cầu vốn TDĐT của Nhà nước đối với nền kinh tế giai đoạn tới
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các mục tiêu cụ thể chủ yếu cần đạt được đến năm 2030 là: tỉ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 40%; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%, trong đó công nghiệp chế tạo đạt trên 20%; tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%/năm. 
Để đạt được các mục tiêu nói trên, Nghị quyết đã xác định trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 sẽ tập trung ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp như: công nghệ thông tin và viễn thông, công nghiệp điện tử ở trình độ tiên tiến của thế giới, đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 nhằm tạo ra nền tảng công nghệ số cho các ngành công nghiệp khác; công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh; công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển công nghiệp dệt may, da giày nhưng ưu tiên tập trung vào các khâu tạo giá trị gia tăng cao gắn với các quy trình sản xuất thông minh, tự động hoá. Ngoài ra, một số ngành, lĩnh vực cơ khí cũng sẽ được ưu tiên phát triển như: ô tô, máy nông nghiệp, thiết bị công trình, thiết bị công nghiệp, thiết bị điện, thiết bị y tế…
Để tạo lập nguồn vốn cho việc thực hiện các mục tiêu nói trên, Nghị quyết cũng đề ra một số giải pháp quan trọng như hoàn thiện các chính sách tín dụng cho vay theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị trong sản xuất công nghiệp, cho vay trên cơ sở hiệu quả của các dự án đầu tư; nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, tín dụng (kể cả vốn vay từ nước ngoài) đối với các doanh nghiệp công nghiệp…
Dự thảo Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021-2030 cho thấy, trong giai đoạn 2021-2030, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của nước ta dự kiến khoảng 7%/năm, tổng vốn đầu tư xã hội bình quân đạt 33-35% GDP. Đến hết năm 2020, quy mô GDP của Việt Nam (theo giá hiện hành) được Tổng cục Thống kê công bố là 6.293.144,9 tỷ đồng. Kết hợp với dự báo về quy mô tổng vốn đầu tư toàn xã hội được đưa ra tại dự thảo Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2021-2030, có thể ước lượng quy mô GDP và tổng vốn ĐTPT toàn xã hội của giai đoạn 2021-2030 dao động từ 30.701.660 đến 32.562.366 tỷ đồng. 
Như vậy, có thể thấy rằng trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, việc phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế khác ở nước ta khác phù hợp với chính sách phát triển công nghiệp quốc gia cũng như chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2021-2030 sẽ đòi hỏi một lượng vốn ĐTPT rất lớn nhằm đạt được mục tiêu về kinh tế được đặt ra. Kết quả tính toán cho thấy rằng, với các giả định được đưa ra như đã nêu ở phần trên, trong giai đoạn 2021-2030, nhu cầu vốn ĐTPT của nền kinh tế sẽ tăng lên đáng kể. Nếu so với quy mô vốn ĐTPT toàn xã hội giai đoạn 2011-2020 được nêu tại dự thảo báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020, thì quy mô vốn ĐTPT toàn xã hội giai đoạn 2021-2030 sẽ cao hơn khoảng 2,05-2,17 lần .
Để đáp ứng được nhu cầu vốn ĐTPT như trên, đòi hỏi nền kinh tế phải huy động qua nhiều kênh khác nhau như chi ĐTPT của ngân sách nhà nước (NSNN), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), vốn huy động qua thị trường chứng khoán… Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam giai đoạn sắp tới, có thể thấy rằng việc huy động nguồn vốn ĐTPT qua các kênh nói trên cũng gặp nhiều khó khăn, xuất phát từ những lý do sau đây: 
- Đối với nguồn vốn NSNN: Tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, quan điểm chỉ đạo được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là thu hút tối đa nguồn lực của xã hội; giảm bội chi NSNN. Trong bối cảnh đó, việc chi ĐTPT từ NSNN chắc chắn sẽ được siết chặt để phù hợp với chủ trương của Đảng đã đề ra. 
- Đối với nguồn vốn ODA: Với việc Việt Nam chính thức vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình và “tốt nghiệp ODA”, nguồn vốn ODA đầu tư vào Việt Nam trong những năm tới sẽ giảm dần, tiến tới áp dụng các điều kiện vay vốn từ các quốc gia và định chế tài chính đa phương tương tự như các khoản vay thương mại.
- Đối với nguồn vốn của các TCTD: Theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn đang được giảm dần. Hiện tại, theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, các TCTD đang được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên, theo Thông tư số 08/2020/TT-NHNN  sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, tỷ lệ này theo lộ trình sẽ giảm xuống còn 37% từ ngày 01/10/2021 và 34% từ ngày 01/10/2022 để tiến tới mức 30% từ ngày 01/10/2023. Do đó, trong thời gian tới, việc vay vốn trung và dài hạn từ các TCTD để phục vụ nhu cầu ĐTPT cũng trở nên khó khăn hơn.
- Đối với nguồn vốn huy động qua thị trường chứng khoán: Mặc dù huy động vốn ĐTPT qua thị trường này là xu hướng tất yếu trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam việc huy động vốn qua thị trường này vẫn chưa trở thành một kênh phổ biến và được các nhà đầu tư ưa chuộng xuất phát từ trình độ phát triển của thị trường chứng khoán cũng như năng lực quản lý tài chính của các doanh nghiệp.
Bắt nguồn từ những lý do nêu trên, việc duy trì một kênh tạo lập nguồn vốn ĐTPT cho nền kinh tế thông qua hoạt động TDĐT của Nhà nước do NHPT thực hiện là rất cần thiết nhằm đảm bảo vẫn đáp ứng được nhu cầu vốn ĐTPT của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại (như đã kể ở trên) hoặc không làm cho hoạt động của các kênh này đi chệnh định hướng đã được đặt ra.
Một số vướng mắc trong triển khai chính sách TDĐT của Nhà nước hiện nay
Mặc dù là một chính sách kinh tế quan trọng của Chính phủ và đã có nhiều đóng góp đối với nền kinh tế, tuy nhiên, việc triển khai hoạt động TDĐT của Nhà nước thời gian qua cũng gặp một số khó khăn xuất phát từ những vướng mắc trong các quy định của Nhà nước về hoạt động này. Cụ thể:
Thứ nhất, về đối tượng vay vốn
Đối tượng thụ hưởng chính sách TDĐT của Nhà nước vốn dĩ đã bị hạn chế ngay từ khi mới ban hành các chính sách này, bởi trong điều kiện nguồn lực tài chính có hạn, Nhà nước chỉ hỗ trợ đối với những lĩnh vực, ngành nghề mà Nhà nước cần khuyến khích. Mặt khác, các đối tượng này cũng thường là những lĩnh vực, ngành nghề mà các NHTM thường ít cho vay do e ngại về khả năng sinh lời thấp và mức độ rủi ro cao.
Tuy nhiên, từ sau khi Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ra đời, thì đối tượng vay vốn TDĐT càng bị thu hẹp hơn so với quy định tại các Nghị định ban hành trước đó. Tại Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, Chính phủ quy định đối tượng vay vốn TDĐT gồm 24 loại dự án (không phân biệt dự án nhóm A, nhóm B hay nhóm C). Danh mục này sau đó được sửa đổi theo Nghị định số 106/2008/NĐ-CP, trong đó bổ sung các dự án đầu tư hạ tầng, mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới và thiết bị trong lĩnh vực xã hội hoá văn hoá, thể dục thể thao, môi trường; đồng thời loại bỏ một số loại dự án như: dự án đầu tư đường bộ, cầu đường bộ, đường sắt và cầu đường sắt; dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại làng nghề tiểu thủ công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề ở nông thôn; dự án đầu tư chế biến sâu từ quặng khoáng sản để sản xuất phôi thép, gang có công suất tối thiểu 200 nghìn tấn/năm; dự án đầu tư xây dựng thủy điện nhỏ công suất nhỏ hơn hoặc bằng 100MW. Song đến khi Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ra đời thì đối tượng vay vốn TDĐT chỉ còn lại 21 loại dự án (trong đó chủ yếu là dự án thuộc nhóm A và nhóm B).
So với danh mục đối tượng vay vốn quy định tại Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP thì danh mục đối tượng vay vốn quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP đã có sự thu hẹp đáng kể. Điều đáng nói là trong số các dự án, mặt hàng bị đưa ra khỏi danh mục đối tượng vay vốn nói trên, có những loại dự án đã từng được NHPT cho vay vốn với khối lượng lớn trong giai đoạn trước đó, như: dự án đầu tư xây dựng thuỷ điện công suất trên 50MW, một số loại dự án thuộc nhóm C…
Việc thu hẹp đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước như trên có tác dụng làm giảm gánh nặng hỗ trợ của NSNN đối với những ngành, lĩnh vực đã cải thiện được khả năng cạnh tranh và sinh lời hoặc những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không còn khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, việc làm này cũng đồng thời hạn chế vai trò của NHPT trong việc cung ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế bởi nhiều loại dự án, mặt hàng thuộc lĩnh vực tài trợ của NHPT trước đây phải chuyển sang sử dụng các nguồn vốn khác, trong khi các loại dự án thuộc đối tượng vay vốn còn lại không thật sự thu hút được các doanh nghiệp đầu tư (vì chủ yếu dự án nhóm A, nhóm B mới được vay vốn của NHPT).
Thứ hai, về lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay từng được coi là điểm hấp dẫn nhất của nguồn vốn TDĐT bởi nó hàm chứa trong đó sự ưu đãi khá lớn của Nhà nước. Những ưu đãi về lãi suất ngay từ đầu đã gắn liền với các nguồn vốn này và được duy trì trong nhiều năm. Tuy nhiên, qua từng lần sửa đổi chính sách TDĐT của Nhà nước, các ưu đãi này ngày càng được thu hẹp. 
Nếu như theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP, lãi suất cho vay đầu tư vẫn còn có phần ưu đãi tương đối rõ nét với quy định lãi suất cho vay đối với các dự án thông thường được xác định bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng 0,5%/năm (theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP) hoặc cộng 1%/năm (Nghị định số 106/2008/NĐ-CP), thì đến Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, ưu đãi về lãi suất TDĐT gần như bị xoá bỏ, với điều khoản quy định lãi suất cho vay đầu tư không thấp hơn lãi suất bình quân các nguồn vốn cộng với phí hoạt động của NHPT. 
Việc lãi suất TDĐT ngày càng tiến sát với lãi suất thị trường như trên là phù hợp với các cam kết hội nhập quốc tế và giúp làm giảm gánh nặng cấp bù của NSNN đối với hoạt động tín dụng nhà nước. Tuy nhiên, điều này lại làm cho lãi suất cho vay của NHPT ngày càng tỏ ra kém hấp dẫn. Trong khi đó, số liệu từ thống kê của NHNN cho thấy từ năm 2013 trở lại đây, lãi suất TDĐT không còn thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay trung - dài hạn thông thường của các NHTM, thậm chí lãi suất TDĐT của NHPT tại một số thời điểm còn cao hơn lãi suất cho vay trung - dài hạn của các NHTM.
Ngoài ra, việc các NHTM được phép cho vay bằng ngoại tệ với lãi suất thấp hơn so với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam hoặc cho các khách hàng lớn và khách hàng uy tín vay vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất thông thường cũng làm cho nguồn vốn của TDĐT của Nhà nước càng trở nên kém hấp dẫn. 
Thứ ba, về bảo đảm tiền vay
Tài sản bảo đảm tiền vay (BĐTV) trước đây cũng là một điểm hấp dẫn trong chính sách TDĐT của Nhà nước với quy định cho phép BĐTV chủ yếu bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, chủ đầu tư vay vốn TDĐT được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để BĐTV; trường hợp tài sản hình thành từ vốn vay không đủ điều kiện BĐTV, chủ đầu tư phải sử dụng tài sản hợp pháp khác để BĐTV với giá trị tối thiểu bằng 15% tổng mức vay vốn. Tuy nhiên, đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, các chủ đầu tư vay vốn TDĐT phải thực hiện các biện pháp BĐTV tại NHPT theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm với các biện pháp BĐTV bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, sử dụng tài sản hình thành trong tương lai và các biện pháp bảo đảm khác (nếu có) theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Trong khi đó, quy định về BĐTV áp dụng cho các NHTM càng ngày càng trở nên thông thoáng hơn. Các ngân hàng này cũng được phép sử dụng biện pháp BĐTV bằng tài sản hình thành từ vốn vay theo quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP. Ngoài ra, đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (là lĩnh vực có nhiều dự án thuộc đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước), các NHTM còn được phép cho vay không có tài sản BĐTV theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và Nghị định số 55/2015/NĐ-CP. Thực tế thời gian qua cho thấy việc các NHTM nhận tài sản hình thành từ vốn vay để BĐTV cũng trở nên khá phổ biến; thậm chí đối với những khách hàng lớn và có uy tín, các NHTM còn miễn tài sản BĐTV hoặc chỉ yêu cầu BĐTV với giá trị thấp hơn nhiều so với mức vốn vay.
Như vậy, có thể thấy, chính sách về BĐTV trong hoạt động TDĐT của NHPT đang ngày càng trở nên kém hấp dẫn hơn so với các NHTM, do đó tác dụng khuyến khích đối với các doanh nghiệp cũng không còn lớn như trước đây.
Thứ tư, về cơ chế xử lý rủi ro 
Cho vay đầu tư là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro xuất phát từ những rủi ro vốn có của hoạt động đầu tư xây dựng (thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài). Trong khi đó, chính sách về xử lý rủi ro (XLRR) trong hoạt động TDĐT của Nhà nước được Chính phủ quy định thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế mà theo đó, phần lớn các biện pháp XLRR (khoanh nợ, xoá nợ gốc, xoá nợ lãi, bán nợ) là do Bộ Tài chính và Thủ tướng Chính phủ quyết định; còn thẩm quyền của NHPT chỉ được giới hạn trong việc quyết định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với các dự án, khoản vay gặp rủi ro.
Với thẩm quyền bị giới hạn như trên, việc XLRR của NHPT thời gian qua gặp không ít vướng mắc bởi các biện pháp mà NHPT được áp dụng nhiều khi không giải quyết triệt để rủi ro phát sinh hoặc không có tác dụng đáng kể trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn khắc phục khó khăn về tài chính, do đó nhiều doanh nghiệp và dự án sau khi được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ vẫn không khôi phục được hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo nguồn thu trả nợ cho NHPT. Trong khi đó, việc áp dụng các biện pháp XLRR triệt để hơn (khoanh nợ, xoá nợ lãi, xoá nợ gốc) đòi hỏi nhiều hồ sơ, thủ tục và phải trải qua quá trình xét duyệt của nhiều cơ quan (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ) nên không đáp ứng được yêu cầu về tính kịp thời của việc XLRR. 
Những bất cập nói trên lại liên quan mật thiết đến chính sách dự phòng rủi ro (DPRR) của NHPT mà theo đó, trong nhiều năm liền, NHPT chỉ được trích DPRR hàng năm tối đa bằng 0,5% dư nợ bình quân, không phân biệt các khoản nợ có mức độ rủi ro khác nhau. Với mức trích lập thấp như trên, NHPT không có đủ nguồn lực tài chính để XLRR. Mặt khác, do chi phí DPRR được lấy từ phí quản lý mà NSNN cấp hàng năm nên việc sử dụng quỹ DPRR để xoá nợ thường mất nhiều thời gian bởi đó thực chất là khoản chi tiêu NSNN, phải tuân thủ những quy định chặt chẽ về hồ sơ, thủ tục và thẩm quyền quyết định. 
Thứ năm, về nguồn vốn cho vay
Nguồn vốn phục vụ hoạt động TDĐT của Nhà nước được NHPT tạo lập chủ yếu từ phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. 
Tuy nhiên, điều đáng nói là, mặc dù chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn TDĐT, song nguồn vốn phát hành trái phiếu của NHPT thường có kỳ hạn không dài, chủ yếu là trái phiếu kỳ hạn 2 năm, 3 năm hoặc 5 năm, còn lại các trái phiếu kỳ hạn 7 năm, 10 năm và 15 năm chiếm tỷ trọng nhỏ. 
Trong khi đó, việc tài trợ vốn TDĐT của NHPT chủ yếu được thực hiện dưới hình thức cho vay với kỳ hạn dài, đại bộ phận các dự án sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước có thời hạn vay vốn 8-10 năm, nhiều dự án được vay vốn lên đến 15 năm, thậm chí 20 năm hoặc lâu hơn. Đây chính là điểm khiến cho việc tạo lập nguồn vốn và quản trị thanh khoản trong hoạt động TDĐT của Nhà nước tại NHPT trở nên khó khăn và phức tạp hơn so với hoạt động của các TCTD thông thường. Đồng thời, đặc điểm về cơ cấu nguồn vốn như trên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai hoạt động TDĐT của Nhà nước thời gian qua.
Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật quy định NHPT được NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý khi triển khai hoạt động TDĐT của Nhà nước, tuy nhiên, trong nhiều năm qua, do khó khăn trong việc bố trí dự toán nên NSNN thường xuyên không cấp đủ số chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho NHPT theo đúng số thực tế phát sinh. Sự thiếu hụt đó đã gây ra cho NHPT những khó khăn không nhỏ trong việc đảm bảo nguồn vốn để đáp ứng yêu cầu cho vay do phải sử dụng các nguồn vốn khác (mà trong đó chủ yếu là phát hành trái phiếu) để bù đắp cho phần thiếu hụt từ số cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý mà NSNN chưa cấp cho NHPT. Việc sử dụng các nguồn vốn thay thế này sẽ làm cho tình hình tài chính của NHPT xấu đi do chi phí huy động vốn bị tăng lên đáng kể. Ngoài ra, việc sử dụng vốn huy động để bù đắp cho phần thiếu hụt từ số cấp bù chênh lệch lãi suất nói trên cũng làm cho tình hình thanh khoản của NHPT thêm căng thẳng.
Thứ sáu, về triển khai Nghị định số 32/2017/NĐ-CP 
Ngày 31/3/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về TDĐT của Nhà nước thay thế cho Nghị định số 75/2011/NĐ-CP. Theo đó, lãi suất cho TDĐT của Nhà nước được xác định bằng mức lãi suất bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu trái phiếu NHPT được Chính phủ bảo lãnh kỳ hạn 05 năm trong thời gian 01 năm trước thời điểm công bố lãi suất cộng tỷ lệ chi phí quản lý hoạt động và DPRR của NHPT, trong đó tỷ lệ chi phí quản lý ổn định trong thời kỳ 03 năm là do Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Tuy nhiên, kể từ khi Nghị định này có hiệu lực đến nay, Bộ Tài chính vẫn chưa trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chi phí quản lý làm cơ sở để NHPT công bố lãi suất cho vay đầu tư. Hệ quả là từ ngày 15/5/2017, NHPT không thể cho vay thêm đối với dự án nào ngoài những dự án đã ký hợp đồng tín dụng trước khi Nghị định số 32/2017/NĐ-CP có hiệu lực. 
Cùng với đó, quy định về điều kiện cho vay và giải ngân vốn TDĐT được đưa ra tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP cũng chưa thực sự hợp lý, gây khó khăn cho NHPT nếu triển khai việc cho vay theo quy định này.
Một số đề xuất 
Từ thực tiễn triển khai hoạt động TDĐT của Nhà nước trong nhiều năm, bài viết kiến nghị một số nội dung cần sửa đổi trong chính sách này như sau:
Một là, xác định lại đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước
Để đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm của chính sách TDĐT và phù hợp với khả năng về nguồn vốn, cần giới hạn đối tượng của TDĐT theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực có tác động quan trọng đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế và các dự án có ý nghĩa lớn về mặt xã hội. Theo đó, bên cạnh các dự án thuộc danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước được quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP hiện nay, Chính phủ cần xem xét bổ sung một số loại hình dự án thuộc các lĩnh vực được ưu tiên phát triển được đề cập ở phần trên của bài viết.
Đồng thời, để đảm bảo tính bền vững của chính sách, cần duy trì sự ổn định của danh mục đối tượng vay vốn TDĐT trong một khoảng thời gian tối thiểu khoảng 5 năm và chỉ điều chỉnh khi cần thiết để phù hợp với kế hoạch phát triển KT-XH từng giai đoạn.
Hai là, sửa đổi quy định về các điều kiện cho vay
Theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, khách hàng vay vốn TDĐT của Nhà nước phải đáp ứng điều kiện về việc không có nợ xấu tại các TCTD tại thời điểm NHPT xem xét cho vay, giải ngân vốn vay.
Thực tế hoạt động cho vay nhiều năm qua tại NHPT cũng như các TCTD khác cho thấy rằng, việc thực hiện quy định nói trên có thể làm phát sinh một số vướng mắc gây khó khăn cho quá trình tác nghiệp của NHPT và có thể ảnh hưởng đến an toàn tín dụng. Xuất phát từ những lý do nêu trên, Chính phủ cần xem xét điều chỉnh hoặc quy định rõ hơn về điều kiện vay vốn TDĐT tại khoản 6 Điều 6 Nghị định số 32/2017/NĐ-CP theo hướng chỉ áp dụng quy định về điều kiện khách hàng không có nợ xấu tại các TCTD ở thời điểm NHPT xem xét quyết định cho vay hoặc giải ngân vốn vay lần đầu tiên đối với dự án vay vốn TDĐT. Đối với khách hàng đã được NHPT giải ngân một phần vốn vay theo hợp đồng tín dụng nhưng phát sinh nợ xấu tại các TCTD, NHPT được chủ động xem xét và quyết định việc tiếp tục giải ngân vốn vay trên nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng.
Cùng với đó, Chính phủ cũng cần xem xét sửa đổi các quy định về điều kiện vay vốn TDĐT của Nhà nước liên quan đến lãi suất cho vay và tài sản BĐTV theo hướng cho phép NHPT được thực hiện chính sách phân biệt lãi suất cho vay và tỷ lệ BĐTV theo khách hàng vay vốn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín và có dự án hiệu quả được vay vốn TDĐT của Nhà nước với lãi suất thấp hơn và tỷ lệ BĐTV nhỏ hơn so với các doanh nghiệp khác. Việc áp dụng biện pháp BĐTV hoặc không áp dụng biện pháp BĐTV đối với mỗi khoản vay do NHPT quyết định và chịu trách nhiệm theo mức độ rủi ro của khoản vay.
Ba là, mở rộng thẩm quyền của NHPT trong xử lý rủi ro 
Để bảo đảm rủi ro tín dụng được xử lý một cách chủ động, kịp thời và hỗ trợ có hiệu quả trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vay vốn TDĐT của Nhà nước, NHPT cần nghiên cứu đề xuất Chính phủ xem xét mở rộng hơn nữa thẩm quyền của NHPT trong việc sử dụng các biện pháp xử lý rủi ro phù hợp với mức độ rủi ro phát sinh và nguồn lực tài chính của ngân hàng này. Theo đó, Chính phủ có thể xem xét bổ sung quyền quyết định xử lý rủi ro vốn TDĐT của NHPT đối với một số trường hợp trên nguyên tắc phù hợp với quy mô Quỹ Dự phòng rủi ro và không làm tăng số phí quản lý mà ngân sách nhà nước phải cấp cho NHPT hàng năm, chẳng hạn: gia hạn nợ vượt thời hạn cho vay tối đa theo quy định của Chính phủ về TDĐT để hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn có đủ thời gian phục hồi sản xuất; khoanh nợ và xoá lãi vay nếu không làm tăng phí quản lý phải cấp từ ngân sách nhà nước cho NHPT; xoá nợ gốc trong phạm vi số dự phòng chung và dự phòng cụ thể NHPT đã trích cho khoản nợ cần xoá; bán nợ trong trường hợp giá bán không thấp hơn giá trị sổ sách của khoản nợ và trong trường hợp giá bán thấp hơn giá trị sổ sách của khoản nợ nhưng phần chênh lệch còn thiếu nằm trong phạm vi số dự phòng chung và dự phòng cụ thể đã trích cho khoản nợ cần bán…
Ngoài ra, đối với các trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro khách quan bất khả kháng nhưng có phương án sản xuất kinh doanh khả thi và hiệu quả, thì Chính phủ nên cho phép NHPT được quyền cơ cấu lại thời hạn trả nợ và xem xét tiếp tục cho vay để tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu để trả nợ cho Nhà nước. Cơ chế này hiện đang được các TCTD áp dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn để sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn - là lĩnh vực có nhiều loại dự án, mặt hàng thuộc đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước. Việc áp dụng cơ chế này đối với các doanh nghiệp vay vốn TDĐT tại NHPT có tác dụng một mặt tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn tạm thời cho doanh nghiệp vay vốn, mặt khác đảm bảo nguồn vốn TDĐT của Nhà nước không kém ưu đãi hơn so với nguồn vốn của các TCTD thông thường. 
Bốn là, tạo điều kiện thuận lợi cho NHPT tạo lập nguồn vốn
Để đảm bảo nguồn vốn đáp ứng yêu cầu triển khai hoạt động TDĐT của Nhà nước tại NHPT, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan cần xem xét triển khai một số công việc nhằm tạo thuận lợi cho việc tạo lập nguồn vốn của NHPT như sau:
- Bố trí cấp đủ vốn điều lệ cho NHPT theo phù hợp lộ trình được phê duyệt tại Chiến lược phát triển NHPT đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 để sớm đạt mức vốn điều lệ được quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của NHPT.
- Tạo điều kiện để NHPT phát hành trái phiếu kỳ hạn phù hợp với yêu cầu cho vay đối với các dự án ĐTPT có thời hạn thu hồi vốn dài thuộc đối tượng sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước.
- Bố trí nguồn vốn để thanh toán các khoản cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý mà ngân sách nhà nước chưa thanh toán đủ cho NHPT, đồng thời không để tình trạng nợ đọng tương tự xảy ra trong thời gian tới.
- Xem xét bố trí ngân sách nhà nước để hỗ trợ phần tiền lãi mà NHPT phải trả từ việc huy động vốn nhằm bù đắp cho số tiền chênh lệch lãi suất mà ngân sách nhà nước không thanh toán kịp thời cho NHPT trong những năm qua./.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2020), Dự thảo báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2011-2020, xây dựng chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021-2030, truy cập tại https://nhandan.com.vn; 
NHNN (2011-2018), Báo cáo thường niên 2010-2017, truy cập tại https://www.sbv.gov.vn;
NHNN (2018-2020), Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần, truy cập tại https://www.sbv.gov.vn;
Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững;
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Thông tư số 22/2019/TT-NHNN của Thống đốc NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 08/2020/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN;
Tổng cục Thống kê (2007-2020), Tình hình KT-XH 2006-2019, truy cập tại https://www.gso.gov.vn;
Tổng cục Thống kê (2020), Báo cáo số 245/BC-TCTK ngày 27/12/2020 về tình hình KT-XH quý IV và năm 2020, truy cập tại http://www.mpi.gov.vn./.
Tìm theo ngày :

Khách online:11233
Lượt truy cập: 9382480